Tin tổng hợp

CNQP&KT - Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, các cơ sở kinh tế, quốc phòng nói chung, cơ sở Quân giới ở Hà Nội nói riêng, đã được di chuyển lên Chiến khu nhằm bảo toàn lực LƯỢNG, chuẩn bị cho giai đoạn trường kỳ kháng chiến.

TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC

Kháng chiến và kiến quốc là hai nhiệm vụ chiến lược sau khi Cách mạng tháng Tám thành công. Ngày 3/9/1945, trong phiên họp Chính phủ đầu tiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra 6 nhiệm vụ cần kíp, trong đó chống giặc ngoại xâm là nhiệm vụ hàng đầu, bởi “Không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánh Pháp”. Vì vậy, với tầm nhìn và tư duy chiến lược, Hồ Chủ tịch đã cử đồng chí Phạm Văn Đồng ở lại Việt Bắc cùng cấp ủy và chính quyền địa phương củng cố khu giải phóng, phòng khi cần đến. Khi chiến tranh ngày càng đến gần, tháng 8/1946, Trung ương Đảng cử đồng chí Nguyễn Lương Bằng và Trần Đăng Ninh lên Việt Bắc chuẩn bị căn cứ, đường di chuyển để đưa vật chất lên tích trữ trước… Vùng Đại Từ, Phú Lương, Định Hóa, Võ Nhai (Thái Nguyên) Chợ Đồn, Chợ Mới (Bắc Kạn) là nơi các cơ quan đứng chân, bố trí các kho tàng, bệnh viện, xưởng Quân giới; trong đó, Định Hóa là trung tâm An toàn khu (ATK).

Với sách lược khôn khéo, mềm dẻo, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân hóa, cô lập, tranh thủ thời gian hòa hoãn, chuẩn bị mọi mặt để đánh thực dân Pháp. Việc chuẩn bị kháng chiến được tiến hành rất bí mật, khẩn trương và vô cùng khó khăn, vất vả ở cả Trung ương và các địa phương.


Vận chuyển máy móc lên Chiến khu để sản xuất vũ khí (năm 1947). Ảnh: TL

BÍ MẬT TỔNG DI CHUYỂN

Trước nguy cơ chiến tranh hiện hữu, từ tháng 3/1946, ta đã bí mật di chuyển dần các máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên liệu, các binh công xưởng ở Hà Nội về các tỉnh lân cận để sản xuất, phục vụ chiến đấu. Khi quân Pháp đánh chiếm Hải Phòng và Lạng Sơn (20/11/1946), việc di chuyển các cơ quan, cơ sở kinh tế, quốc phòng… trở nên cấp thiết. Sau khi nghe đồng chí Nguyễn Ngọc Xuân, Phó Cục trưởng Cục Quân giới báo cáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn “Có thể Pháp sắp tiến công mình… Về Quân giới, phải gấp rút chuyển hết máy móc, nguyên liệu ra khỏi Hà Nội, mang lên rừng núi lập căn cứ chống lại nó”. Khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ (19/12/1946), Trung ương quyết định tổng di chuyển trên cả nước, nhằm đem tất cả những gì có thể được lên các căn cứ để trường kỳ kháng chiến. Phần lớn các cơ sở Quân giới từ Hà Nội đã sơ tán ra vùng lân cận, nay di chuyển tiếp lên các chiến khu.

“Có thể Pháp sắp tiến công mình… Về Quân giới, phải gấp rút chuyển hết máy móc, nguyên liệu ra khỏi Hà Nội, mang lên rừng núi lập căn cứ chống lại nó”.

       (Chủ tịch Hồ Chí Minh)

Các xưởng AVIA, STAR, Sở Công binh Việt Nam, Công ty Cao Thắng di chuyển về Mỹ Đức và Chi Nê, kết hợp với các cơ sở ở đây hình thành các xưởng Quân giới của Khu 11 (Đặc khu Hà Nội). Máy móc, thiết bị, vật tư của Nhà máy xe lửa Đông Anh, Gia Lâm cùng cơ sở Quân giới ở Chùa Bổ (Đáp Cầu) di chuyển lên Thái Nguyên, kết hợp với xưởng Giang Tiên, Làng Cẩm hình thành các xưởng Quân giới của Quân khu 1. Một phần máy móc, trang bị, nguyên liệu của các nhà máy xe lửa Đông Anh, Gia Lâm, xưởng hóa chất của Cục Quân giới cùng xưởng Hoàng Văn Thụ ở Tiên Lữ (Hưng Yên) di chuyển lên Tuyên Quang để thành lập xưởng Quân giới của Khu 10.

VỪA DI CHUYỂN, VỪA NGHIÊN CỨU, SẢN XUẤT

Có thể nói, vào thời điểm “nước xôi lửa bỏng” đó, các xưởng Quân giới vừa gấp rút di chuyển, vừa tổ chức nghiên cứu, sản xuất lựu đạn, chai ét xăng crếp, lựu đạn và bom ba càng... Cán bộ, công nhân xưởng hóa chất của Cục Quân giới dù rất vất vả trong việc di chuyển nhưng vẫn nỗ lực để sản xuất được thuốc súng. Một số tổ kỹ thuật cơ động được thành lập để kiểm tra, sửa chữa tại chỗ vũ khí hư hỏng của các đơn vị, đặc biệt là sửa chữa pháo và đạn pháo ở Pháo đài Láng, Xuân Canh, Xuân Tảo. Các loại lựu đạn, bom ba càng, mìn... do các xưởng Quân giới sản xuất đã góp phần cùng quân và dân ta giữ vững Hà Nội trong suốt 60 ngày đêm, tạo thuận lợi để Trung ương và các cơ quan, đơn vị di chuyển an toàn lên Chiến khu Việt Bắc.


Đoàn viên thanh niên cứu quốc Hoàng Diệu, ôm bom ba càng, sẵn sàng tiêu diệt xe tăng địch trên đường phố thủ đô Hà Nội ngày 23/12/1946. Ảnh: TL

Đầu năm 1947, địch mở nhiều cuộc hành quân càn quét vào Khu 2, những cơ sở Quân giới của Đặc khu Hà Nội lại phải di chuyển tiếp lần thứ hai: Xưởng Hóa chất Bình Đà chuyển vào Châu Rế (Hòa Bình), Xưởng K1 ở Trinh Tiết chuyển vào Chùa Hương (Hà Đông); các xưởng Vũ Xá, Đông Sơn, Đồng Làng chuyển về Xích Thổ (Ninh Bình)... Khi có tin địch chuẩn bị đánh tới, Quân giới Đặc khu Hà Nội đã lệnh cho xưởng K1 từ Trinh Tiết chuyển vào Thung Mơ (khu vực Chùa Hương). Vừa di chuyển đến Chùa Hương thì địch ập tới, máy móc chưa kịp phân tán, một số đã bị địch đánh phá. Sau đó, xưởng K1 chuyển tiếp đến Đồng Chiêm.

Lúc đầu ta còn trưng dụng một số xe ô tô của tư nhân, sử dụng xe goòng, tàu dắt, thuyền buồm... phương tiện thô sơ để di chuyển các cơ sở Quân giới. Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, đường sá bị phá hủy theo chủ trương “tiêu thổ kháng chiến”, việc di chuyển các cơ sở Quân giới vô cùng khó khăn do nhiều cỗ máy cồng kềnh, nặng nề; mưa rét, đường hẹp, đèo dốc, trơn lầy; địch khống chế gắt gao; lại vận chuyển vào ban đêm và chủ yếu sử dụng xe trâu, bò, thuyền mảng, con lăn, đòn bẩy và sức người; cự ly di chuyển gần nhất cũng 50km, xa nhất đến 350km. Vượt mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, vừa di chuyển, vừa sửa chữa, nghiên cứu sản xuất phục vụ chiến đấu, đầu năm 1947, ngành Quân giới và Quân giới Đặc khu Hà Nội (Khu 11) đã chế tạo thành công đạn AT và nhiều loại thủy lôi, mìn, lựu đạn, đặc biệt là súng và đạn Bazôca, góp phần chặn bước tiến và đánh bại chiến lược chiến tranh chớp nhoáng của địch.

Từ Khu 5 trở ra, hơn 42.000 tấn máy móc, trang - thiết bị, nguyên liệu và các bán thành phẩm cùng các cơ sở thiết yếu đã được chuyển ra các vùng căn cứ kháng chiến. Riêng Hà Nội chuyển được 9.000 tấn.

Cùng với giữ bí mật, các đơn vị còn kiên quyết đánh địch để bảo đảm an toàn cho các cuộc di chuyển. Tiêu biểu là trận đánh của Bộ chỉ huy Chiến khu 2 (từ 22/3 - 6/4/1947) đã đánh bại cuộc càn quét của hơn 5.000 quân Pháp vào vùng Nam Định, Ninh Bình, Hà Nam, Hà Đông, bảo vệ an toàn cho các cơ quan, kho tàng, binh công xưởng… mà ta vừa di chuyển từ Hà Nội và Nam Định về đây.

Trong điều kiện khó khăn, không đồng minh, không viện trợ, không ngoại thương, không ngoại giao, “tứ bề thọ địch”, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã “dựa chắc vào dân”, phát huy sức mạnh toàn dân, hoàn thành thắng lợi cuộc tổng di chuyển. Từ Khu 5 trở ra, hơn 42.000 tấn máy móc, trang - thiết bị, nguyên liệu và các bán thành phẩm cùng các cơ sở thiết yếu đã được chuyển ra các vùng căn cứ kháng chiến. Riêng Hà Nội, đã chuyển được 9.000 tấn (trong đó, Tổng Liên đoàn Lao động chuyển 8.000 tấn). Nhờ vậy, năm 1947, Đặc khu Hà Nội đã hình thành 9 binh công xưởng (K1 - K9) đặt ở Hòa Bình, Hà Đông, Hà Nam, Sơn Tây, có khả năng sửa chữa kịp thời vũ khí cho các đơn vị; sản xuất được lựu đạn, mìn, súng và đạn Bazôca (xưởng K3 sản xuất được 300 viên đạn Bazôca/tháng). Thành quả đó là một trong những kỳ tích đầu tiên của cuộc chiến tranh nhân dân vĩ đại do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức và lãnh đạo.

75 năm đã trôi qua, những bài học kinh nghiệm về di chuyển cơ sở Quân giới lên Chiến khu những ngày đầu Toàn quốc kháng chiến chống Pháp vẫn còn nguyên giá trị. Những bài học đó cần tiếp tục được nghiên cứu, kế thừa, phát triển phù hợp với điều kiện tác chiến trong hiện tại và tương lai; nhằm bảo toàn tiềm lực kinh tế, quân sự, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Thượng tá, TS. LÊ THÀNH CÔNG

Cục Kinh tế, Bộ Quốc phòng

                                   

______________________

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Văn kiện quân sự của Đảng, Tập 2, Nxb QĐND, 1976.

2. Lịch sử Quân giới Việt Nam (1945-1954), Nxb Lao động, 1990.

3. Lịch sử Kỹ thuật quân sự Việt Nam, Nxb QĐND, 2002.

 

Bình luận


Họ và tên:                

Email:                       

Nội dung: